
Thánh Sabba
Sáng lập đan viện Mar Saba trong sa mạc Giuđa
- Bậc
- Hiển thánh
- Loại
- Tu sĩ, Sáng lập dòng
- Sinh – mất
- 439 – 532
- Thời đại
- Thế kỷ VI
- Lễ nhớ
- 5/12
- Quốc gia
- Thổ Nhĩ Kỳ, Israel
Tiểu sử
Sabba sinh năm 439 tại Mutalaska, vùng Cappadocia, nay ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ông vào đan viện từ khi còn nhỏ, đến Palestine khoảng năm 456 và theo học với tu sĩ Êutymiô. Sau đó ông sống một thời gian như ẩn sĩ trong một cái hang. Các tiểu sử về ông do môn đệ là Cyrillô thành Scythopolis viết, nên nguồn khá gần thời đại ông.
Ông quy tụ các môn đệ và lập một lavra, một dạng cộng đoàn mà các tu sĩ sống riêng nhưng gặp nhau cầu nguyện chung, tại thung lũng Kidron, được ghi nhận năm 484 trong nhiều tài liệu (một số nguồn nói 478). Về sau nơi này được gọi là Mar Saba. Vào đầu thập niên 490, thượng phụ Giêrusalem bổ nhiệm ông làm bề trên các tu sĩ ẩn sĩ trong vùng, và ông còn lập thêm những đan viện khác.
Sabba là người ủng hộ Công đồng Chalcedon và phản đối cả phái Một Tính lẫn những người theo Origenes. Theo Cyrillô, năm 511 ông đến gặp hoàng đế Anastasios, và năm 531 ông đến Constantinople gặp hoàng đế Giustiniano để xin giúp cho Palestine sau cuộc nổi loạn của người Samari. Ông mất ngày 5 tháng 12 năm 532 gần Giêrusalem, thọ 93 tuổi. Mar Saba vẫn là một đan viện Chính thống đang có người sống; thi hài ông được trả về đó năm 1965. Lễ nhớ là ngày 5 tháng 12.
Hạnh và công trình
- Đến Palestine khoảng năm 456 và theo thầy Êutymiô
- Lập lavra Mar Saba ở thung lũng Kidron
- Được cử làm bề trên các ẩn sĩ vùng Giêrusalem vào đầu thập niên 490
- Đến gặp hai hoàng đế Anastasios (511) và Giustiniano (531)
- Mất ngày 5 tháng 12 năm 532
Các thánh cùng quốc gia
Nguồn tham khảo
- Cyril of Scythopolis, Life of Sabas
- Martyrologium Romanum
- Mar Saba Monastery, historical account
Nội dung do Anawim biên soạn từ các sự kiện lịch sử đã được ghi nhận. Một số chi tiết về các thánh thời xưa là truyền thống và được ghi rõ như vậy.

