Những con số trong Kinh Thánh
Kinh Thánh dùng con số để nói về Thiên Chúa và dân Người. Trang này gom lại những con số biểu tượng chính, vài phép đếm về chính bộ sách theo từng bản dịch, và niên biểu các triều vua thời quân chủ chia đôi.
Những con số biểu tượng
Ý nghĩa được tóm theo cách đọc chung của Hội Thánh Công giáo: sách Giáo lý, các Giáo phụ và chú giải Kinh Thánh Công giáo.
Ba: ngày thứ ba
Đức Giê-su nhận ba ngày ông Giô-na ở trong bụng cá làm dấu chỉ về chính Người, và Người đã sống lại vào ngày thứ ba. Các Giáo phụ cũng đọc con số này dưới ánh sáng mầu nhiệm Ba Ngôi: Đức Giê-su sai các môn đệ làm phép rửa nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Bảy: sự trọn vẹn
Thiên Chúa hoàn tất công trình sáng tạo và nghỉ ngày thứ bảy, nên bảy là con số của sự đầy đủ, trọn hảo. Đức Giê-su đòi tha thứ không phải bảy lần mà bảy mươi lần bảy, nghĩa là không giới hạn; sách Khải Huyền gửi đến bảy Hội Thánh, hình ảnh của toàn thể Hội Thánh. Truyền thống Công giáo cũng kể bảy bí tích.
Mười: Mười Lời
Mười Điều Răn, sách Đệ Nhị Luật gọi là mười lời, là giao ước Thiên Chúa ban cho dân Người trên núi Khô-rếp (Xi-nai). Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo trình bày đời sống luân lý Kitô giáo theo Mười Điều Răn, được Đức Giê-su kiện toàn trong điều răn mến Chúa yêu người.
Mười hai: dân Thiên Chúa
Mười hai chi tộc là toàn thể Ít-ra-en. Đức Giê-su chọn mười hai Tông Đồ để khai mở Ít-ra-en mới. Trong Giê-ru-sa-lem mới, các cửa thành mang tên mười hai chi tộc và các nền móng mang tên mười hai Tông Đồ: Hội Thánh được xây trên nền các Tông Đồ.
Bốn mươi: thử thách và chuẩn bị
Bốn mươi ngày mưa lụt, bốn mươi năm trong sa mạc, bốn mươi ngày ông Mô-sê ở trên núi và ông Ê-li-a đi đến núi Khô-rếp: con số của một thời gian thử luyện dẫn tới cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Đức Giê-su ăn chay bốn mươi ngày trong hoang địa, và mỗi năm Hội Thánh hiệp với Người qua bốn mươi ngày Mùa Chay. Sau khi sống lại, Người hiện ra trong bốn mươi ngày trước khi lên trời.
Năm mươi: năm toàn xá và lễ Ngũ Tuần
Năm thứ năm mươi là năm toàn xá: người làm tôi được trả tự do, đất đai trở về gia đình cũ; các Năm Thánh của Hội Thánh bắt nguồn từ truyền thống này. Năm mươi ngày sau lễ Vượt Qua là lễ Ngũ Tuần, ngày Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông Đồ.
Bảy mươi: muôn dân
Bảy nhân mười, một con số của sự viên mãn. Ông Mô-sê chọn bảy mươi kỳ mục để chia sẻ thần khí; cuộc lưu đày Ba-by-lon được báo trước là bảy mươi năm. Bảng các dân tộc trong sách Sáng Thế kể chừng bảy mươi dân, nên khi Đức Giê-su sai bảy mươi (hay bảy mươi hai, tùy bản chép tay) môn đệ đi trước Người, việc sai đi ấy hướng về muôn dân.
Sáu trăm sáu mươi sáu: số của Con Thú
Sách Khải Huyền nói đây là con số chỉ tên một người. Theo lối người xưa dùng chữ cái làm chữ số, nhiều nhà chú giải hiểu đó là tên hoàng đế Nê-rô, kẻ bách hại Hội Thánh (vài bản chép tay ghi 616, cũng ứng với tên ấy). Số sáu lặp ba lần, thiếu một so với bảy, còn gợi một quyền lực tự xưng là thần nhưng mãi bất toàn.
Một ngàn: thời gian của Thiên Chúa
Đối với Chúa, ngàn năm như một ngày: con số nói về một quãng thời gian vượt tầm đo của con người. Theo truyền thống từ thánh Âu-tinh, một ngàn năm trong sách Khải Huyền là thời gian của Hội Thánh giữa hai lần Đức Ki-tô đến; Hội Thánh bác bỏ lối hiểu đó là một vương quốc trần gian (thuyết ngàn năm).
Một trăm bốn mươi bốn ngàn: dân được đóng ấn
Mười hai nhân mười hai nhân một ngàn: dân mới của Thiên Chúa trong sự viên mãn, xây trên mười hai chi tộc và mười hai Tông Đồ. Ngay sau con số ấy, thánh Gio-an thấy một đoàn người đông vô kể thuộc mọi dân tộc, vì thế các nhà chú giải Công giáo hiểu đây là con số biểu tượng, không phải giới hạn số người được cứu độ.
Bộ Kinh Thánh qua các con số
- Sách
- 73
- Chương
- 1.328
- Câu
- 35.383
| Phần | Sách | Câu | % |
|---|---|---|---|
| Cựu Ước, đệ nhất quy điển | 39 | 23.378 | 66,1% |
| Đệ nhị quy điển | 7 | 4.076 | 11,5% |
| Tân Ước | 27 | 7.929 | 22,4% |
Bảy sách đệ nhị quy điển (Tô-bi-a, Giu-đi-tha, 1 và 2 Ma-ca-bê, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Ba-rúc) thuộc Cựu Ước của Hội Thánh Công giáo; các đoạn tiếng Hy Lạp của Ét-te và Đa-ni-en được tính chung với sách của chúng.
Số chương và số câu khác nhau đôi chút giữa các bản vì cách chia chương câu, chẳng hạn bản Vulgata chia sách Ét-te thành 16 chương; các phần bổ sung tiếng Hy Lạp (Ét-te, Đa-ni-en) được tính trong sách của chúng, mỗi câu một lần.
Các vua Giu-đa và Ít-ra-en
Niên biểu theo E. R. Thiele, năm trước Công nguyên, làm tròn. Các triều chồng lên nhau là thời cha con cùng trị vì hoặc hai vua tranh ngôi. Phần gạch chéo: niên đại còn tranh luận.
Danh sách các triều vua
Giu-đa (miền Nam)
- Rơ-kháp-am931–913
- A-vi-giam913–911
- A-xa911–870
- Giơ-hô-sa-phát872–848
- Giơ-hô-ram853–841Niên đại còn tranh luận
- A-khát-gia-hu841
- Bà A-than-gia841–835
- Giô-át835–796
- A-mát-gia-hu796–767
- A-dác-gia (Út-di-gia)792–740Niên đại còn tranh luận
- Giô-tham750–732Niên đại còn tranh luận
- A-khát735–715Niên đại còn tranh luận
- Khít-ki-gia715–686Niên đại còn tranh luận
- Mơ-na-se696–642Niên đại còn tranh luận
- A-môn642–640
- Giô-si-gia640–609
- Giơ-hô-a-khát609
- Giơ-hô-gia-kim609–598
- Giơ-hô-gia-khin598–597
- Xít-ki-gia-hu597–586
Ít-ra-en (miền Bắc)
- Gia-róp-am I931–910
- Na-đáp910–909
- Ba-sa909–886
- Ê-la886–885
- Dim-ri885
- Típ-ni885–880
- Om-ri885–874
- A-kháp874–853
- A-khát-gia-hu853–852
- Giô-ram852–841
- Giê-hu841–814
- Giơ-hô-a-khát814–798
- Giô-át798–782
- Gia-róp-am II793–753Niên đại còn tranh luận
- Dơ-khác-gia753
- Sa-lum752
- Mơ-na-khêm752–742
- Pe-các752–732Niên đại còn tranh luận
- Pơ-các-gia742–740
- Hô-sê732–722

